Mộng Tuyền cố tình nhai lại thuyết âm mưu để xuyên tạc, chống phá
Trần Chí Tài
Kích động lòng hận thù dân tộc để xúi giục một bộ phận người dân Việt Nam “bài Tàu”, thậm chí đối đầu với Trung Quốc là một thủ đoạn vô cùng thâm độc mà các thế lực thù địch, các con buôn chính trị khoác áo dân chủ nhân quyền tung ra nhiều năm qua. Mỗi khi quan hệ Việt- Trung diễn ra một sự kiện gì thì những luận điệu như “Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc”, “Việt Nam là tay sai của Trung Quốc”, thậm chí “Việt Nam sắp thành một khu tự trị của Trung Quốc”… Một trong những cơ sở để chúng tung ra những luận điệu trên là thuyết âm mưu mang tên “Mật ước Thành Đô” do blogger Người đưa tin Kami sáng tác. Thực sự có hay không cái gọi là “Mật ước Thành Đô” mà qua đó cho phép biến Việt Nam thành “một khu tự trị của Trung Quốc”, xin hãy cùng tìm hiểu và làm rõ. Ngày 30/11/2010, blogger Người đưa tin Kami đã đăng tải bài viết “Wikileaks – Kế hoạch cho Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh”, trong nội dung bài viết có đề cập đến một tài liệu “tuyệt mật” có liên quan đến Việt Nam. Đó là biên bản họp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), ông Đỗ Mười – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đại diện cho phía Việt Nam với ông Giang Trạch Dân – Tổng Bí thư và ông Lý Bằng Thủ tướng Chính phủ đại diện cho phía Trung quốc trong hai ngày 3-4/9/1990 tại Thành đô. Bọn phản động gọi nó là “Mật ước Thành Đô”. Theo người đưa tin Kami thì trong Mật ước này có 1 nội dung quan trọng là “…Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”. Có nghĩa là “tới năm 2020, Việt Nam sẽ sáp nhập vào Trung Quốc” theo như thông tin mà Blogger này đưa ra. Thật là nực cười!
Cả đám phản động nháo nhào như vớ được miếng mồi ngon vì những chiêu trò tuyên truyền của bọn chúng vào thời điểm đó đã quá nhàm. Khi mà những chiêu trò cũ không còn hiệu quả để lôi kéo người dân, thì với cái thông tin “Mật ước Thành Đô” mà bọn nó có được, bọn chúng dễ dàng đánh vào nhận thức người dân Việt Nam với tâm lý “bài Tàu”, từ đó kích động người dân lật đổ Đảng CSVN. Bắt đầu từ đây, bịa đặt sinh ra thêm nhiều điều. Lúc này, chúng như đắc chí như thêm 1 “bằng chứng hùng hồn” và được chúng nhai lại đến tận bây giờ. Bọn chúng bịa ra nội dung của Hồi ký Trần Quang Cơ để cố chứng minh cái luận điệu “CSVN bán nước”. Nhưng thật sự cái cái Hồi ký mà chúng truyền nhau trên mạng là một bản đã bị chỉnh sửa, bởi vì Hồi ký Trần Quang Cơ chưa bao giờ được công bố. Khi bị lật tẩy, chúng tiếp tục bịa ra cái “Nhật ký Lý Bằng” nhằm tiếp tục trò xuyên tạc lươn lẹo của chúng. (Lý Bằng là nguyên Thủ tướng của Trung Quốc ). Tiếp đó là cái chiêu trò quen thuộc “nhét chữ vào miệng” nhằm bôi nhọ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch “Thế là một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu” (có lẽ kẻ đầu tiên làm việc này là tên Trương Huy San trong cuốn “Bên thắng cuộc” của hắn). “Mật ước Thành Đô” được bọn chúng thường xuyên tuyên truyền nhiều và mạnh mẽ đến nỗi nhiều người trẻ tin theo rằng chúng có thật, thậm chí đến thời điểm hiện giờ vẫn rất nhiều người tin vào lời tuyên truyền của bọn chúng. Ngày 02/09/2014, bọn chúng lợi dụng vấn đề này để phát động lên cái phong trào “Tôi muốn biết” với mục đích yêu cầu Đảng CSVN công khai bí mật quốc gia, trong đó bí mật về mật ước Thành Đô. Một phong trào nhảm và vô lý hết sức, nếu thông tin nào đó thuộc bí mật quốc gia sao có thể công khai được, lại còn đòi công khai cái mà chúng ta còn chẳng biết nó tồn tại hay không?
Như thế, bịa đặt bắt đầu sinh ra bịa đặt, và trò bịa đặt bắt đầu cũng hạ màn. Vào tháng 9 năm 2016, Blogger Người đưa tin Kami- chuyên gia về các thuyết âm mưu, kẻ mà tung tin về nội dung Mật ước Thành Đô, đã thú nhận bài viết của hắn là bịa đặt. Hắn thú nhận sử dụng phương pháp “40/60” do Joseph Goebbels, Bộ trưởng tuyên truyền khét tiếng của Đức Quốc xã nghĩ ra. Muốn thuyết phục và định hướng dư luận chỉ cần 60% thật, còn 40% là bịa. Như vậy, vốn dĩ “Mật ước Thành Đô” chỉ là sản phẩm tưởng tượng ra, vậy suốt 6 năm (từ năm 2010 khi blogger Người đưa tin Kami đăng bài đến khi thú nhận) bọn phản động đã cố chứng minh 1 sản phẩm tưởng tượng thành một thứ có thật! Quả đúng là một tấn trò hề lố bịch!
Cho đến hiện tại những thành phần bất mãn, phản động vẫn chưa chấp nhận sự thật này mà vẫn lợi dụng nó để xuyên tạc kích động. Trong một bài viết gần đây trên mạng xã hội mang tên: “Buộc trẻ em học tiếng Tàu, Đảng CSVN đang bạch hoá Hiệp ước Thành Đô” nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Mộng Tuyền- bút danh của một kẻ vong nô phản quốc vẫn nhai lại luận điệu xuyên tạc rằng: “Hiệp Ước Thành Đô đã bán nước cho trung cộng, sự thỏa hiệp cho quá trình thực hiện chia làm nhiều giai đoạn: Đầu tiên là giai đoạn 20 năm 1990-2020 thực hiện trong bí mật. Giai đoạn sáp nhập thứ I: 15/7/2020 Thành lập quốc gia tự trị Việt Nam thuộc trung cộng. Giai đoạn sáp nhập thứ II: 5/7/2040 Việt Nam chính thức là thuộc trị của trung cộng. Giai đoạn sáp nhập thứ III: 5/7/2060 Việt Nam chính thức là một tỉnh của trung cộng có tên gọi là tỉnh Âu Lạc”. Chỉ xin hỏi Mộng Tuyền và các loại con buôn chính trị thích trò chơi “thuyết âm mưu” rằng: “15/7/2020 Thành lập quốc gia tự trị Việt Nam thuộc trung cộng” đã qua hơn 3 năm mà vẫn chưa thấy “quốc gia tự trị Việt Nam thuộc trung cộng” là sao? Thêm nữa, nhìn sang các sự kiện gần đây như sự kiện giàn khoan năm 2014 nếu có chuyện Việt Nam đồng ý với năm 2020 sáp nhập vào Trung Quốc chỉ cần gì Trung Quốc phải vội vàng mang giàn khoan với hơn 100 cái tàu to tàu nhỏ sang đặt cách bờ biển Việt Nam chỉ vài chục hải lý để nắn gân Việt Nam xem mềm hay cứng, nếu chắc chắn chỉ còn sáu năm nữa toàn bộ đất nước Việt Nam gồm cả đất liền và hải đảo là của Trung Quốc hết rồi thì năm 2014 cần gì Trung Quốc phải hao tâm tổn trí như vậy. Về phía Việt Nam nếu năm 1990 đã ký mật ước đồng ý đến năm 2020 làm khu tự trị của Trung Quốc thì cần gì phải mua sắm máy bay, tàu ngầm, tàu chiến của Nga và hiện nay đang đàm phán khắp nơi để mua bán các loại vũ khí phòng thủ đất nước, rồi tình báo Mỹ vốn được tiếng là ở chỗ nào cũng đánh hơi được chẳng lẽ không biết Việt Nam mấy năm nữa thuộc Trung Quốc rồi mà vẫn còn bỏ cấm vận Việt Nam, nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam và còn định bán vũ khí cho Việt Nam thì há chăng chẳng phải là dại dột? Bằng cách đặt ngược lại câu hỏi một chút như vậy chúng ta cũng đã thấy có nhiều điều vô căn cứ và thủ đoạn điêu toa, xảo trá của Mộng Tuyền.
Chưa hết, Mộng Tuyền lại còn bịa đặt: “Mới đây bộ giáo dục csVN đã ra quyết định vào ngày 1/12/2023 bắt buộc trẻ em từ lớp ba trở lên phải học tiếng tàu theo chương trình giáo dục mới” để minh hoạ cho cái gọi là “Đảng CSVN đang bạch hoá hiệp ước Thành Đô?”. Có thể thấy ngay đây là một luận điệu phi logic không có căn cứ, mà chỉ nhằm mục đích hèn hạ đó là “bài Trung” và minh hoạ cho cái thuyết âm mưu mang tên “Mật ước Thành Đô” đã bị vạch mặt bẽ bàng. Rõ ràng ai cũng biết, trong Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, ngoại ngữ là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12. Ngoài tiếng Anh, trong danh mục môn này còn có tiếng Trung Quốc, Đức, Nhật, Hàn, Pháp, Nga (được xem là ngoại ngữ 1, bắt buộc). Sau khi sách giáo khoa của 7 môn ngoại ngữ được phê duyệt, từ năm 2024, các môn ngoại ngữ sẽ được đưa vào chương trình chính thức. Các trường tiểu học có thể căn cứ tình hình thực tế của địa phương để triển khai dạy – học, học sinh và phụ huynh có thể chọn ngoại ngữ nào tùy ý. Không có chuyện thiên vị, ưu ái hay bắt buộc nào đối với Tiếng Trung trong trường học cả. Đây là luận điệu quá khiên cưỡng và kẻ có tên Mộng Tuyền đang cố tình lấp liếm sự thật và bịa đặt sai lệch nhằm kích động tư tưởng “bài Trung” mà thôi.
Học một ngoại ngữ không có nghĩa là mất đi ngôn ngữ và văn hóa của mình, mà trái lại, là một cách để hiểu rõ hơn, thêm yêu ngôn ngữ và nền văn hóa của đất nước mình. Trong thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế theo tinh thần đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại của ta, thì việc học ngôn ngữ của các quốc gia khác là rất cần thiết. Vì có được ngôn ngữ của đối tác không chỉ hiểu được mà còn nắm chắc được đối tác, đối tượng, như ông cha ta đã dạy: “Biết địch, biết ta trăm trận không nguy”. Muốn “biết” mà chỉ có tiếng Anh (ngôn ngữ quốc tế) không chưa đủ mà còn phải “biết” ngôn ngữ của nước đối tác nữa. Trong khi đó, Trung Quốc là một nước lớn, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ), có nhiều ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị, văn hóa của khu vực và thế giới, lại ngay cạnh nước ta nên là đối tác quan trọng của Việt Nam. Vì thế, việc học tiếng Trung Quốc không phải là không cần thiết, mà là một lợi thế. Bởi vì, tiếng Trung Quốc là một trong những ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất trên thế giới, có nhiều tài liệu và nguồn thông tin phong phú, có nhiều cơ hội việc làm và học tập. Vậy thì, không có hà cớ gì mà lại không học tiếng Trung Quốc trong khi ngoài tiếng Anh, trong chương trình giáo dục phổ thông còn học một số ngôn ngữ khác như Đức, Hàn, Nhật, Nga… Ngoài dạy và học ngoại ngữ theo chương trình giáo dục phổ thông, ở các địa phương nhất là ở các thành phố lớn đã và đang có nhiều trung tâm đào tạo tiếng nước ngoài, không chỉ tiếng Anh mà còn nhiều ngôn ngữ khác nữa. Như vậy, việc đưa thêm một ngoại ngữ là tiếng Trung vào chương trình để học sinh lựa chọn trong số 7 ngoại ngữ trong quá trình học tập là một quyết định có tính chiến lược và tầm nhìn xa của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Nó không phải là cái việc đi “bạch hoá” cho một cái gọi là “Mật ước Thành Đô” chưa bao giờ có thật, nếu có nó chỉ tồn tại trong não trạng của những kẻ thích chơi trò “thuyết âm mưu” nhằm mục đích chống phá, mà điển hình là kẻ có tên Mộng Tuyền mà thôi.